Loãng xương (còn được gọi xốp xương hay thưa xương) là một bệnh lý của hệ thống xương làm giảm tỷ trọng khoáng chất của xương (Bone Mineral Density-BMD) hay giảm trọng lượng của một đơn vị thể tích xương, hậu quả của sự suy giảm các protein và các khoáng chất của bộ xương, khiến cho sức chống đỡ và chịu lực của xương giảm đi, xương sẽ trở nên mỏng mảnh, dễ gãy, dễ lún và dễ xẹp, đặc biệt ở các vị trí chịu lực của cơ thể như: cột sống, cổ xương đùi, đầu dưới xương quay… Nói đơn giản hơn loãng xương là tình trạng xương mỏng mảnh và yếu đến mức rất dễ gãy khi bị chấn thương dù rất nhẹ, thậm chí có thể gãy tự nhiên không do chấn thương.

Bệnh loãng xương

Bệnh loãng xương

BỘ XƯƠNG ĐƯỢC CẦU TẠO NHƯ THẾ NÀO?

Bộ xương chiếm khoảng 15 – 17% trọng lượng cơ thể, được coi là ngân hàng khoáng chất của cơ thể. Cấu tạo của bộ xương gồm hai phần chính là các chất hữu cơ và các khoáng chất. Các chất hữu cơ chiếm 30% trọng lượng của bộ xương, tạo nên một khung protein để các khoáng chất như calci, phospho, magnesi… gắn vào. Các khoáng chất chiếm 70% trọng lượng của bộ xương, quan trọng nhất là calci, phospho và magnesi.

Bệnh thoai hoa cot song tác động tới vùng cổ gây nên benh thoai hoa dot song co. Khi thoái hóa tác động tới bao xơ của đĩa đệm gây nên benh thoat vi dia dem

Cấu tạo xương được điều hòa chủ yếu nhờ hai loại tế bào chính: các tế bào sinh xương (tạo cốt bào – osteoblast) và các tế bào hủy xương (hủy cốt bào – osteoclast). Ở tuổi trẻ (dưới 25 tuổi), khi cơ thể đang phát triển, hoạt động của các tế bào sinh xương sẽ trội hơn hoạt động của các tế bào hủy xương, khối lượng khoáng chất của bộ xương tăng dần cùng sự phát triển của cơ thể để đạt tới khối lượng đỉnh. Ở độ tuổi 25 – 40 hoạt động của các tế bào sinh xương và các tế bào hủy xương cân bằng giữ cho khối lượng của bộ xương ổn định. Đây cũng chính là giai đoạn bộ xương có khối lượng khoáng chất cao nhất (optimal peak bone mineral density). Từ tuổi 40 trở đi, hoạt động của các tế bào hủy xương sẽ trội hơn hoạt động của các tế bào sinh xương, khối lượng khoáng chất của bộ xương sẽ giảm dần theo tuổi với tốc độ mất xương từ 0,5 đến 1% mỗi năm. Riêng ở phụ nữ, sau khi mãn kinh, tốc độ mất xương sẽ nhanh hơn hẳn nam giới cùng tuổi. Trong 5-10 năm đầu của thời kỳ mãn kinh, tốc độ mất xương là 2-4% khối lượng xương mỗi năm.

NHỮNG AI SẼ BỊ LOÃNG XƯƠNG?

Tất cả chúng ta, đến lúc có tuổi (trên 65 tuổi) ai cũng bị loãng xương. Đây là hiện tượng loãng xương tiên phát còn gọi loãng xương người già hay loãng xương type II, một tất yếu của quá trình phát triển, lúc này các tế bào sinh xương (osteoblast) bị lão hóa, sự hấp thu calci ở ruột bị hạn chế và có sự suy giảm tất yếu các hormon sinh dục. Loãng xương tiên phát thường xuất hiện trễ, diễn biến chậm, tăng từ từ và ít có những biến chứng nặng nề như gãy xương hay lún xẹp các đốt sống.

Quá trình loãng xương sẽ xảy ra sớm hơn, tiến triển nhanh hơn, gây nhiều hậu quả nặng nề như gãy, xẹp đốt sống, gãy cổ xương đùi, gãy đầu dưới xương quay (xương cổ tay)… và được gọi là loãng xương thứ phát hay loãng xương type I khi có thêm các nguyên nhân:

1. Phụ nữ sau khi mãn kinh, hoạt động của buồng trứng ngưng lại, vì không có oestrogen nên các tế bào hủy xương tăng hoạt tính (oestrogen có tác dụng ức chế hoạt động của các tế bào hủy xương). Khối lượng xương sẽ mất đi từ 2 – 4% mỗi năm trong suốt 10 đến 15 năm đầu sau mãn kinh. Khối lượng xương của đa số phụ nữ (65 tuổi giảm từ 30 đến 50%, có người chỉ còn không tới 30% khối lượng xương. Chính vì vậy, ở phụ nữ tuổi (65 thường gặp các biến chứng nặng của loãng xương như gãy lún đốt sống, gãy cổ xương đùi, gãy đầu dưới xương cẳng tay… hơn hẳn nam giới cùng tuổi.

phụ nữ trên 40 tuổi

phụ nữ trung niên

2. Bất động quá lâu ngày do bệnh tật (chấn thương cột sống, phải bất động), do nghề nghiệp (những người du hành vũ trụ khi ở trong tàu vũ trụ đi ra ngoài không gian)… vì khi bất động lâu ngày các tế bào hủy xương tăng hoạt tính.

3. Bị các bệnh nội tiết: cường tuyến giáp, cường tuyến cận giáp, cường tuyến vỏ thượng thận, tiểu đường… và đặc biệt là suy giảm chức năng của các tuyến sinh dục (buồng trứng với nữ và tinh hoàn đối với nam).

4. Bị bệnh suy thận mãn hoặc phải chạy thận nhân tạo lâu ngày gây mất nhiều calci qua đường tiết niệu.

5. Mắc các bệnh xương khớp mãn tính khác đặc biệt là viêm khớp dạng thấp và thoái hóa khớp

6. Do sử dụng một số thuốc: chống động kinh (dihydan), thuốc chữa bệnh tiểu đường (insulin), thuốc chống đông (heparin) và đặc biệt là các thuốc kháng viêm nhóm corticosteroid (corticosteroid một mặt ức chế trực tiếp quá trình tạo xương, mặt khác làm giảm hấp thu calci ở ruột, tăng bài xuất calci ở thận và làm tăng quá trình hủy xương).