Viêm khớp dạng thấp hoặc viêm đa khớp dạng thấp là những tổn thương ở vùng khớp vô cùng nguy hiểm. Nhẹ là những cơn đau, sưng tấy, nặng hơn là thoái hóa, vỡ sụn khớp thậm chí còn có thể khiến bệnh nhân bị liệt. Vậy viêm khớp dạng thấp là gì, nguyên nhân và cách điều trị như thế nào ?

Hình ảnh bệnh viêm khớp dạng thấp

Hình ảnh bệnh viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là gì?

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh viêm đặc hiệu. Bệnh xảy ra ở các khớp gây tổn thương màng hoạt dịch, sụn khớp và đầu xương dưới sụn. Bệnh diễn biến mạn tính dẫn đến tình trạng dính và biến dạng khớp. Đây là một trong các bệnh khớp viêm mạn tính thường gặp nhất.

Theo thống kê, hàng năm ở nước ta có khoảng 750 – 800 người mới mắc bệnh viêm đa khớp dạng thấp trên một triệu dân từ 15 tuổi trở lên. Tỷ lệ mắc bệnh là 0.5% dân số, trong đó 80% là nữ giới. Bệnh thường gây ra biến dạng khớp và mô xung quanh khớp. Từ đó làm mất chức năng khớp. Khớp mất đi chức năng và đau nên ảnh hưởng đến chất lượng sống.

TÍNH ĐỐI XỨNG gây viêm khớp dạng thấp - 1 trong 4 nguyên nhân CỰC KÌ NGUY HIỂM

Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp xảy ra khi các tế bào bạch cầu có chức năng chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn và virus di chuyển từ máu vào trong màng bao quanh khớp. Các tế bào bạch cầu này xuất hiện và gây ra phản ứng viêm tại khớp do việc tạo ra các chất gây viêm như TNF-alpha, protein.

Có nhiều nguyên nhân gây viêm khớp dạng thấp

Có nhiều nguyên nhân gây viêm khớp dạng thấp

Theo năm tháng, tình trạng viêm đó sẽ làm tổn thương sụn, xương, gân và dây chằng ở gần khớp và dần dần làm biến dạng khớp.

* Các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh:

– Giới nữ thường có tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp cao hơn ở nam giới 2 -3 lần.

– Bệnh thường xảy ra ở độ tuổi 40 – 60. Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể xảy ra ở nhóm tuổi trẻ, thiếu niên hoặc tuổi già.

– Những người có người thân trong gia đình bị viêm khớp dạng thấp thì nguy cơ mắc bệnh thường cao hơn.

– Hút thuốc lá cũng là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp.

Triệu chứng viêm khớp dạng thấp

Triệu chứng đau do viêm khớp dạng thấp

Triệu chứng đau do viêm khớp dạng thấp

    1. Cứng khớp: Là triệu chứng viêm khớp dạng thấp đầu tiên, làm hạn chế sự vận động của các khớp. Cứng khớp thường xuất hiện vào buổi sáng sau khi ngủ dậy và kéo dài khoảng một giờ trước khi cảm thấy các khớp “mềm” ra, co duỗi được.
    2. Sưng khớp: Có thể tụ dịch nhiều hoặc chỉ sưng phù lên. Nếu bị sưng, mô viêm sẽ tác động lên dây thần kinh cảm ứng đau ở dưới da, khiến bàn tay hoặc bàn chân người bệnh có thể cảm thấy tê, ngứa ran…
    3. Nóng da: Triệu chứng sưng khớp trong viêm khớp dạng thấp hay viêm đa khớp dạng thấp thường đi kèm với ấm nóng vùng da chỗ khớp viêm hơn so với các vùng da khác.
    4. Đỏ: Da vùng khớp viêm cũng có thể có màu hồng nhạt, đỏ hơn so với vùng da xung quanh. Đặc biệt là trên ngón tay, xung quanh móng tay, ngón chân. Điều này cho thấy các mạch máu đang bị viêm.
    5. Đau: Triệu chứng viêm khớp dạng thấp điển hình là làm đau các khớp dai dẳng và càng nặng hơn theo thời gian. Hiện tượng viêm làm cho các khớp trở nên nhạy cảm hơn, căng hơn, từ đó gây ra đau các khớp bị viêm.
Bệnh VIÊM KHỚP DẠNG THẤP Ở NGƯỜI LỚN đã nguy hiểm. Vậy còn VIÊM KHỚP DẠNG THẤP Ở TRẺ EM thì sao ?

Sưng, đỏ, đau và cứng khớp xảy ra ở nhiều khớp có thể xem là viêm đa khớp dạng thấp. Các triệu chứng đau khớp trong viêm khớp, viêm đa khớp dạng thấp thường xảy ra nhiều nhất ở các khớp nhỏ, đối xứng ở 2 tay và chân, đặc biệt thường đau nhiều vào thời điểm về đêm và gần sáng.

Cách điều trị viêm khớp dạng thấp

Thuốc điều trị viêm khớp dạng thấp

Thuốc điều trị viêm khớp dạng thấp

Điều trị triệu chứng: nhằm cải thiện triệu chứng viêm, giảm đau, duy trì khả năng vận động (tuy nhiên các thuốc này không làm thay đổi được sự tiến triển của bệnh).

– Các thuốc kháng viêm không steroid (KVKS- NSAIDs).

+ Các thuốc kháng viêm ức chế chọn lọc COX2 Celecoxib: 200mg, uống 1 đến 2 lần mỗi ngày.

Hoặc Meloxicam: 15 mg tiêm (chích) bắp hoặc uống ngày một lần.

Hoặc Etoricoxib: 60 – 90 mg, ngày uống một lần.

+ Các thuốc kháng viêm ức chế không chọn lọc khi bị viêm đa khớp dạng thấp

Diclofenac: uống hoặc tiêm bắp: 75mg x 2 lần/ngày trong 3 – 7 ngày. Sau đó uống: 50 mg x 2 – 3 lần/ ngày trong 4 – 6 tuần.

Brexin 20mg uống hàng ngày

+ Hoặc các thuốc kháng viêm không steroid khác (liều tương đương).

– Corticosteroids (Prednisolone, Prednisone, Methylprednisolone)

+ Thường sử dụng ngắn hạn trong lúc chờ đợi các thuốc điều trị viêm khớp dạng thấp cơ bản có hiệu lực. Chỉ định khi có đợt tiến triển (tiêu chuẩn đợt tiến triển xem ở phần Phụ lục)

+ Thể vừa: 16-32 mg methylprednisolon (hoặc tương đương), uống hàng ngày vào 8 giờ sáng, sau ăn.

+ Thể nặng: 40 mg methylprednison TM mỗi ngày.

+ Thể tiến triển cấp, nặng, đe doạ tính mạng (viêm mạch máu, biểu hiện ngoài khớp nặng): bắt đầu từ 500-1.000mg methylprednisolone truyền TM trong 30-45 phút/ngày, điều trị 3 ngày liên tục. Sau đó chuyển về liều thông thường. Liệu trình này có thể lặp lại mỗi tháng nếu cần.

+ Sử dụng dài hạn: bắt đầu ở liều uống: 20mg hàng ngày, vào 8 giờ sáng. Khi đạt đáp ứng lâm sàng và xét nghiệm, giảm dần liều, duy trì liều thấp nhất  hoặc ngưng  khi điều trị cơ bản có hiệu lực.

Điều trị cơ bản bằng các thuốc chống thấp làm thay đổi tiến triển của bệnh(Disease Modifying Anti Rheumatic Drug-DMARDs) để làm chậm hoặc làm ngừng tiến triển của bệnh, cần điều trị lâu dài và theo dõi các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng trong suốt thời gian điều trị).

– Thể mới mắc và thể thông thường: sử dụng các thuốc DMARDs kinh điển

+ Methotrexat khởi đầu 10 mg một lần mỗi tuần. Tùy theo đáp ứng mà duy trì liều cao hoặc thấp hơn (7,5 – 15 mg) mỗi tuần (liều tối đa là 20 mg/ tuần)

+ Hoặc Sulfasalazin khởi đầu 500 mg/ngày, tăng mỗi 500 mg mỗi tuần, duy trì ở liều 1.000 mg x 2 lần mỗi ngày

+ Kết hợp: methotrexat với sulfasalazin hoặc hydroxychloroquine nếu đơn trị liệu không hiệu quả

+ Kết hợp: methotrexat, sulfasalazin và hydroxychloroquine nếu kết hợp trên không hiệu quả

– Thể nặng, kháng trị với các DMARDs kinh điển (không có đáp ứng sau 6 tháng) cần kết hợp với các thuốc sinh học (các DMARDs sinh học)

+ Trước khi chỉ định các thuốc sinh học, cần làm các xét nghiệm để sàng lọc lao, viêm gan, các xét nghiệm chức năng gan thận và đánh giá mức độ hoạt động bệnh (máu lắng hoặc CRP, DAS 28, HAQ)

+ Kết hợp methotrexate và thuốc kháng Interleukin 6 (tocilizumab)

Methotrexat 10 – 15 mg mỗi tuần + tocilizumab 4 – 8mg/kg cân nặng, tương đương 200 – 400mg truyền TM mỗi tháng một lần.

+ Hoặc kết hợp methotrexate và một trong 3 loại thuốc kháng TNFα sau:

Methotrexat 10-15 mg mỗi tuần + etanercept 50mg tiêm dưới da mỗi tuần một lần.

Methotrexat 10-15mg mỗi tuần + infliximab TTM 2-3mg/kg mỗi 4 – 8 tuần.

Methotrexat 10-15mg mỗi tuần + adalimumab 40mg tiêm dưới da 2 tuần một lần

+ Hoặc kết hợp methotrexate và thuốc kháng lympho B (rituximab)

Methotrexat 10 – 15 mg mỗi tuần + rituximab truyền TM 500 – 1000mg x 2 lần, cách 2 tuần, có thể nhắc lại một hoặc hai liệu trình mỗi năm

+ Sau 3 – 6 tháng điều trị, nếu thuốc sinh học thứ nhất không hiệu quả, có thể xem xét thuốc sinh học thứ 2, tương tự như vậy, có thể xem xét thuốc sinh học thứ 3 khi sau 3 – 6 tháng, thuốc sinh học thứ 2 không hiêu quả