Máy chụp cộng hưởng từ có lẽ là tiến bộ lớn nhất trong lĩnh vực chẩn đoán, không chỉ riêng cho lĩnh vực cột sống, tủy sống mà còn trong nhiều lĩnh vực khác;

máy cộng hưởng từ

máy cộng hưởng từ

 

Nhưng cột sống, tủy sống là một trong 3 lĩnh vực được hưởng lợi ích nhiều nhất từ phát minh này (2 lĩnh vực còn lại là não và khớp).

Máy cộng hưởng từ

Cộng hưởng từ hoạt động dựa trên việc phát ra năng lượng của những nguyên tử hydro (có trong nước) được đặt trong một từ trường khi có tác động của sóng radio. Cho đến nay, cộng hưởng từ vẫn được coi là vô hại đối với cơ thể con người. Nó giúp bác sĩ thấy được tường tận các thành phần có chứa nước bên trong cơ thể. Những thế hệ máy chụp cộng hưởng từ mới còn có thể cho thấy hoạt động chức năng của từng vùng cơ thể. Vì tính chất không độc hại của cộng hưởng từ, người ta còn có thể dùng nó để khảo sát bất kỳ trường hợp nào, ngay cả khi người bệnh chỉ mới có những triệu chứng nhỏ nhất, giúp phát hiện bệnh sớm để điều trị kịp thời. Ngoài ra, cộng hưởng từ còn giúp đánh giá chính tác động cơ học của phẫu thuật.

Một phát minh khác mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho lĩnh vực cột sống, tủy sống là việc phát minh ra máy đo điện thế gợi. Máy đo được sự thay đổi phương thức hoặc khả năng dẫn truyền của các tế bào thần kinh khi có tác động từ bên ngoài. Các thương tổn của cột sống, tủy sống gây ra sự thay đổi tính chất dẫn truyền của những tế bào thần kinh đều có thể được ghi nhận, và từ đó bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh hoặc xác định được khu vực có bệnh. Ðo điện thế gợi trong cuộc mổ còn có tác dụng cảnh báo phẫu thuật viên tránh “quá tay”. Hiện nay, đây là kỹ thuật được sử dụng trong hầu hết các cuộc mổ cột sống, tủy sống ở những nước tiên tiến.

Các thuốc bảo vệ tế bào thần kinh

Chế tạo thuốc bảo vệ tế bào thần kinh

Chế tạo thuốc bảo vệ tế bào thần kinh

Có thể nói các công ty dược phẩm đã có những đóng góp không nhỏ trong việc phát hiện khả năng bảo vệ tế bào của methylprednisolone, và trong tương lai gần là các thuốc thuộc nhóm ganglioside. Người ta nhận thấy khi tủy sống bị đụng dập, trong đa số các trường hợp chỉ có một số tế bào của tủy sống bị chết, còn khu vực xung quanh sẽ bị những phản ứng của cơ thể đối với các tế bào chết làm cho ngộ độc và chết sau đó, rồi vùng tủy sống bị chết lan rộng dần ra. Methylprednisolone hoặc ganglioside giúp ngăn ngừa được sự ngộ độc này, hạn chế đến mức thấp nhất số lượng các tế bào thần kinh bị hư hại. Ðây là các thuốc bảo vệ tế bào vô cùng quan trọng, thậm chí không thể thiếu trong điều trị chấn thương tủy sống, trong các cuộc mổ u nội tủy sống hoặc dị dạng mạch máu nội tủy.

Các kỹ thuật “mổ” qua da

Các kỹ thuật “mổ” qua da được hiểu như việc tiêm một cây kim qua da và thực hiện cả cuộc mổ qua cây kim đó. Ðiển hình của kỹ thuật qua da là PLDD (Percutaneous Laser Disc Decompression – Giải ép đĩa đệm bằng laser qua da). Người ta tiêm một cây kim vào đĩa đệm và dẫn laser qua cây kim đó để đốt cháy đi một phần đĩa đệm. Hiện nay, các kỹ thuật Vertebroplasty (tạo hình đốt sống) và Kyphoplasty (tạo hình vùng gù) là những kỹ thuật qua da đang phát triển mạnh, được áp dụng cho các trường hợp đốt sống bị xẹp xuống do loãng xương. Thông qua một cây kim được chích vào đốt sống bị xẹp, người ta bơm một bong bóng làm cho đốt sống phồng lên trở lại và sau đó bơm xi măng vào để giữ cho đốt sống không bị xẹp trở lại.

Các phẫu thuật nội soi

mổ nội soi

mổ nội soi

Người ta thấy rằng với đường mổ càng lớn, bệnh nhân sẽ càng đau đớn sau mổ và khả năng xảy ra biến chứng càng cao, từ đó đã nghĩ cách làm cho đường mổ phải nhỏ đến mức tối đa. Các kỹ thuật nội soi đã đáp ứng được yêu cầu này. Nội soi được sử dụng trong nhiều loại phẫu thuật cột sống, tủy sống, từ lao cột sống, thoát vị đĩa đệm… đến bệnh rỗng tủy. Phẫu thuật viên có thể cắt cả một đốt sống, bắt nẹp và vít vào cột sống chỉ thông qua vài vết rạch da nhỏ trên ngực của bệnh nhân. Các kỹ thuật nội soi trong phẫu thuật cột sống hiện nay tập trung chủ yếu vào lĩnh vực phẫu thuật đĩa đệm. Kỹ thuật nội soi Yeung hiện được xem là tiên tiến nhất trong những kỹ thuật mổ vào đĩa đệm của vùng ngực và thắt lưng.